Số lượt truy cập

1253730

Hiện đang truy cập

9

Học khoa học ở trường quốc tế Toàn Cầu (GIS)

1 Tổng quan về chương trình khoa học

Trường Quốc tế Toàn Cầu (GIS) thực hiện phương pháp giảng dạy môn khoa học là liên hệ giữa “tư duy và thực tế”; trong đó nhấn mạnh vào việc phân tích định lượng cũng như sự thử nghiệm và khả năng quan sát. Học sinh được khuyến khích tìm hiểu về thế giới tự nhiên xung quanh và hiểu tầm quan trọng của khoa học trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. GIS sẽ trang bị hành trang cho học sinh ở ngay những cấp học đầu tiên về các kiến thức khoa học nhưng mỗi học viên sẽ được học hỏi thông qua việc thực hành “phương pháp khoa học”. Đó thực sự là một cách tiếp cận tốt để có thể khám phá và có thể áp dụng cho tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống.

Đối với bộ môn khoa học cũng như đối với bất kỳ một môn học nào khác, học sinh được học theo cách định hướng phát triển dần dần. Trong các cấp học đầu tiên (từ mẫu giáo cho tới lớp 3), môn khoa học phải vui và có tính thúc đẩy,  thiết kế để khuyến khích trẻ khám phá và tìm hiểu về thế giới, cũng như học trả lời các câu hỏi, và tìm kiếm các câu trả lời. Chim chóc, nam châm, hệ mặt trời, những máy móc đơn giản, và khủng long…  là những đề tài kích thích trí tò mò của trẻ trong giai đoạn này. Ở các cấp  học từ lớp 4 cho tới lớp 12, cách tiếp cận này trở nên chặt chẽ và phức tạp hơn. Học sinh bắt đầu đưa ra các câu hỏi định lượng và khả năng của trẻ dần được phát triển để quyết định việc liệu chúng có đủ thông tin để có thể trả lời những câu hỏi đó. Khi học sinh có được sự phát triển về toán học thì chúng có thể áp dụng rộng rãi vào các lĩnh vực khác trong chương trình khoa học. Bốn lĩnh vực chính của khoa học được đưa ra nghiên cứu đó là: khoa học tự nhiên, khoa học đời sống, khoa học trái đất và thiên văn học. Các đề tài cụ thể về từng lĩnh vực khác nhau sẽ được đưa ra giới thiệu trong mỗi năm học. Trọng tâm sẽ được đặt vào việc hiểu biết thực tế có tương quan với nhau như thế nào thông qua các quy luật tự nhiên và các mối quan hệ toán học. Ví dụ, khái niệm về năng lượng được sử dụng đầu tiên để thảo luận về luật bảo toàn năng lượng trong các phép biến đổi hóa học và vật lý và sau đó trong sự trao đổi chất của các cơ thể sống, và cuối cùng là trong mạng lưới thức ăn. Các ví dụ khác bao gồm cách sử dụng các khả năng trong việc nghiên cứu di truyền học hay các ứng dụng về xung lượng để có thể hiểu được về sự việc phóng tên lửa….

Các kỹ năng về măt quy trình được nhấn mạnh gồm:

Quan sát, đo lường, phân loại, lưu giữ, dự đoán, đưa ra giả thuyết, suy luận, và thử nghiệm. Kiến thức và kỹ năng có được nhằm để ứng dụng vào việc thảo luận các vấn đề xã hội quan tâm như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch.

Trong suốt các giờ học khoa học chọn lọc, học sinh được hướng dẫn học vi tính, và các khái niệm về phấn cứng và phần mềm. Các giờ học tiếp theo dành cho việc nghiên cứu máy tính trong các giai đoạn đầu tiên, vì đó là những kinh nghiệm thực tế và vì học sinh có thể tiếp thu rất nhiều các khái niệm và kỹ năng về cách sử dụng máy tính. Trong giai đoạn từ mẫu giáo cho tới lớp 1, học sinh được làm quen với cơ chế vận động của máy tính, thể hiện những khả năng từ vựng có liên quan và dần thích nghi với một khối lượng các chương trình ứng dụng. Ở giai đoạn lớp 2 đến lớp 3, học sinh tiếp tục được dạy các kỹ năng và kiến thức bổ trợ, và học sinh bắt đầu học cách sử dụng các phần mềm xử lý văn bản để chuẩn bị cho các bài báo cáo. Trong suốt  năm học lớp 3, học sinh được hướng dẫn sử dụng bàn phím. Kết thúc lớp bốn, tất cả học sinh đểu phải thành thạo phần mềm xử lý văn bản, có khả năng tạo và điều khiển cơ sở dữ liệu và bảng tính, sử dụng các thành tố đồ họa. Các cách tiếp cận gần đây đối với khoa học hàng hải và các nghiên cứu trên website được trình bày đối với học sinh bắt đầu ở lớp 3. Tuy nhiên, tốc độ thay đổi trong lĩnh vực này yêu cầu một cách tiếp cận linh hoạt đối với việc thiết lập nội dung của chương trình học.


2 Nội dung chương trình học khoa học ở trường.

Chương trình học khoa học tại Trường Quốc tế Toàn Cầu phỏng theo tiêu chuẩn nội dung của chương trình học của Anh và Mỹ. Các tiêu chuẩn này được liệt kê dưới đây, kết hợp với ví dụ và kèm theo các tiêu chuẩn.

 

Tiêu chuẩn 5.1 Tất cả học sinh sẽ học cách xác định hệ thống các thành phần tương tác và hiểu các tương thích này kết hợp với nhau thế nào để tạo ra một hệ thống các hành vi khác nhau.

Kết thúc lớp 4, học sinh GIS có kinh nghiệm, có ý tưởng và thảo luận về những hệ thống cơ bản như ròng rọc, các mạch điện đơn giản, hiểu về vai trò của các thành tố độc lập, và cách thức mà mỗi thành tố này kết hợp lại với nhau nhằm hình thành nên một hệ thống chỉnh thể. Kết thúc lớp 8, học sinh có thể phân tích những thuộc tính của những hệ thống có sử dụng luật giáo dục của các luật tự nhiên; học sinh có thể tính toán được, ví dụ như ưu điểm kỹ thuật của một hệ thống ròng rọc, hay dòng điện trong một mạch điện. Cách hiểu này được kiểm tra và được củng cố qua những kinh nghiệm thực tế bao gồm những đo lường định lượng.

 

Tiêu chuẩn 5.2 Tất cả học sinh sẽ phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định, và đặt ra yêu cầu. Tất cả được phản ánh qua các câu hỏi đặt ra dựa vào công thức và giả thuyết, các thí nghiệm được lên kế hoạch, tạo lập hệ thống quan sát, diễn giải và phân tích dữ liệu, đưa ra các kết luận, và thông báo kết quả.

Kết thúc lớp 4, học sinh GIS có thể thuyết trình về các hệ thống đơn giản như hệ thống ròng rọc – mà chúng được yêu cầu đặt ra những giả thuyết hoặc đưa ra những dự đoán có liên quan tới các hành vi vật chất đó (ví dụ như những ưu điểm kỹ thuật theo dự đoán về hệ thống ròng rọc đó). Học sinh phải lên kế hoạch và tiến hành các đo lường thí nghiệm để kiểm tra những giả thuyết của chúng, ghi lại kết quả, và chuẩn bị báo cáo mô tả quá trình quan sát và đưa ra kết luận. Từ lớp 8 trở lên, học sinh có thể thiết lập và tiến hành những nghiên cứu thực nghiệm và quan sát các hệ thống khác nhau, bao gồm các ví dụ về cơ khí, điện, hóa học, sinh vật học, thiên văn học. Những phát hiện mang tính chất thí nghiệm được liên hệ lại với nhau thông qua cách sử dụng từ ngữ, biểu đồ, đồ thị và tranh ảnh. Các báo cáo của học sinh nhằm mô tả việc hiểu vai trò của các lỗi thí nghiệm, độ không chắc chắn đã thống kê được...

                                                                                        (còn tiếp...)

Tìm kiếm

Tìm kiếm nâng cao

Thành viên đăng nhập

ID:
Pass:
 

Trợ giúp trực tuyến

Tin tức mới nhất